Thuốc lá điện tử đang tác động tới sinh viên như thế nào?
Trong những năm gần đây, thuốc lá điện tử xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt trong đời sống của thanh thiếu niên và sinh viên. Với hình thức nhỏ gọn, nhiều mùi vị, dễ mua bán qua mạng xã hội và dễ che giấu trong môi trường học đường, thuốc lá điện tử không còn là vấn đề cá nhân của người sử dụng mà đã trở thành một thách thức y tế công cộng, giáo dục và quản lý xã hội. Đối với sinh viên, nhóm đang trong giai đoạn hình thành lối sống, nhân cách nghề nghiệp và năng lực học tập độc lập, tác động của thuốc lá điện tử cần được nhìn nhận nghiêm túc, dựa trên bằng chứng khoa học và các quy định chính sách hiện hành.
Một trong những hiểu lầm phổ biến là thuốc lá điện tử “ít hại”, “chỉ là hơi nước” hoặc “không gây nghiện như thuốc lá điếu”. Thực tế, nhiều sản phẩm thuốc lá điện tử có chứa nicotine - chất gây nghiện mạnh, có khả năng làm người sử dụng lệ thuộc cả về thể chất và hành vi [1], [2]. Ở người trẻ, nicotine có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ, đặc biệt là các chức năng liên quan đến chú ý, học tập, kiểm soát xung động và điều hòa cảm xúc [2]. Với sinh viên, điều này có thể biểu hiện bằng giảm khả năng tập trung, tăng cảm giác bồn chồn khi không sử dụng, giảm hiệu quả học tập, rối loạn giấc ngủ và hình thành thói quen tìm đến nicotine như một cách giải tỏa căng thẳng.
Thuốc lá điện tử cũng có thể làm gia tăng nguy cơ sử dụng đồng thời nhiều sản phẩm nicotine. Một sinh viên ban đầu có thể thử thuốc lá điện tử vì tò mò, vì bạn bè rủ rê, vì hương vị hấp dẫn hoặc vì nghĩ rằng sản phẩm này “văn minh” hơn thuốc lá điếu. Tuy nhiên, khi đã lệ thuộc nicotine, người sử dụng có thể tăng tần suất dùng, tăng nồng độ nicotine hoặc chuyển sang sử dụng thêm thuốc lá điếu, thuốc lá nung nóng và các chất khác. Từ đó khiến thuốc lá điện tử càng trở nên đáng lo ngại trong môi trường đại học, nơi sinh viên có nhiều áp lực học tập, thi cử, quan hệ xã hội và định hướng nghề nghiệp.

Nguồn: Internet
Tác hại của thuốc lá điện tử không chỉ dừng ở người sử dụng trực tiếp. Khí dung từ thuốc lá điện tử có thể chứa nicotine, hạt mịn, hợp chất hữu cơ bay hơi, kim loại nặng và các chất có hại khác [1], [2]. Khi sử dụng trong lớp học, ký túc xá, thư viện, nhà vệ sinh, khu sinh hoạt chung hoặc khuôn viên trường, thuốc lá điện tử làm ảnh hưởng đến quyền được học tập, làm việc và sinh hoạt trong môi trường trong lành của cán bộ, viên chức, người học và cộng đồng xung quanh. Điều này đi ngược lại tinh thần của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá và xây dựng môi trường không khói thuốc [3].
Từ góc độ chính sách, Việt Nam đã có cơ sở pháp lý rõ ràng để kiểm soát tác hại của thuốc lá. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 quy định nhiều biện pháp nhằm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát nguồn cung, bảo vệ người không hút thuốc và thúc đẩy môi trường không khói thuốc [3]. Trước sự xuất hiện nhanh của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 173/2024/QH15, trong đó thống nhất chủ trương cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng từ năm 2025 nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, trật tự và an toàn xã hội [4]. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 1665/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 173/2024/QH15, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ liên quan [5].
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, truyền thông chính sách về thuốc lá điện tử cần hướng tới cả cán bộ, viên chức, người học và cộng đồng. Trước hết, cần khẳng định thông điệp rõ ràng: thuốc lá điện tử không an toàn; nicotine gây nghiện và có hại cho sức khỏe người trẻ; việc sử dụng thuốc lá điện tử không phù hợp với môi trường giáo dục và định hướng chính sách hiện hành. Truyền thông không nên chỉ dừng ở khẩu hiệu “nói không với thuốc lá điện tử”, mà cần giải thích cụ thể vì sao sinh viên dễ bị hấp dẫn bởi sản phẩm này, vì sao hương vị và thiết kế bắt mắt là chiến thuật tiếp thị nguy hiểm, và vì sao thử một lần cũng có thể dẫn đến lệ thuộc.
Nhà trường cần lồng ghép nội dung phòng, chống thuốc lá điện tử vào tuần sinh hoạt công dân sinh viên, hoạt động tư vấn sức khỏe, truyền thông tại ký túc xá, câu lạc bộ sinh viên và các kênh truyền thông số chính thức. Cán bộ, giảng viên, cố vấn học tập và nhân viên y tế trường học cần được cung cấp thông tin để nhận diện sản phẩm thuốc lá điện tử, phát hiện sớm hành vi sử dụng và tư vấn phù hợp cho sinh viên. Với sinh viên đã sử dụng, cách tiếp cận nên kết hợp giữa quy định kỷ luật, tư vấn cai nghiện nicotine và hỗ trợ tâm lý, tránh chỉ xử phạt mà không có hỗ trợ thay đổi hành vi.
Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình, y tế địa phương, lực lượng quản lý thị trường và công an để ngăn chặn hoạt động quảng cáo, mua bán, tàng trữ và sử dụng thuốc lá điện tử trong và xung quanh cơ sở giáo dục. Cộng đồng sinh viên cũng cần được khuyến khích tham gia giám sát, phản ánh vi phạm và lan tỏa các chuẩn mực tích cực: không sử dụng, không rủ rê, không tiếp tay quảng cáo, không mua bán thuốc lá điện tử.
Bảo vệ sinh viên khỏi thuốc lá điện tử không phải là một biện pháp hạn chế quyền cá nhân, mà là hành động bảo vệ sức khỏe, năng lực học tập, môi trường giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Khi cán bộ, viên chức, người học và cộng đồng cùng hiểu đúng, làm đúng và thực hiện nghiêm các quy định chính sách, môi trường đại học không nicotine sẽ trở thành nền tảng quan trọng cho một thế hệ sinh viên khỏe mạnh, chủ động và có trách nhiệm với bản thân cũng như xã hội.
Tài liệu tham khảo
[1] World Health Organization. Electronic cigarettes: call to action. Geneva: WHO.
[2] Centers for Disease Control and Prevention. Health effects of vaping. https://www.cdc.gov/tobacco/e-cigarettes/health-effects.html
[3] Quốc hội. Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá số 09/2012/QH13. Ban hành ngày 18/6/2012.
[4] Quốc hội. Nghị quyết số 173/2024/QH15 về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV. Ban hành ngày 30/11/2024.
[5] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1665/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 173/2024/QH15. Ban hành ngày 26/12/2024.
Bài viết và hình ảnh: Khoa Các Khoa học cơ bản
